Showing posts with label KinhTe-TaiChinh. Show all posts
Showing posts with label KinhTe-TaiChinh. Show all posts

Friday, December 27, 2013

Đảo nợ không kịp khi nợ công tăng quá nhanh

Trong khi nợ công năm 2012 của Việt Nam theo các công bố chính thức vẫn xập xình trong mức an toàn (65% GDP) là 55,4% GDP, bao gồm 29,6% nợ công nước ngoài và 25,8% nợ công trong nước, thì theo những báo cáo tổng hợp đầy đủ hơn, con số này lại đang cheo leo ở mức cao và có xu hướng tăng nhanh.
Theo TS Phạm Thế Anh - Quyền Viện trưởng Viện chính sách công và Quản lý thuộc Đại học Kinh tế quốc dân, nếu tính cả nợ DNNN không được Chính phủ bảo lãnh và nợ đọng xây dựng cơ bản, trong đó phải kể tới 30 DNNN đang ôm nợ gấp ba lần vốn chủ sở hữu, thì nợ công năm 2012 của Việt Nam phải lên tới 98,2% GDP. Con số này cao hơn hẳn so với mức nợ công năm 2012: 95% mà Ủy ban Kinh tế cảnh báo hồi tháng 5 năm nay, và tăng cao so với con số nợ công năm 2011: ít nhất 74% mà TS Vũ Quang Việt đưa ra với cùng cách tính. Việc đưa nợ của DNNN vào nợ công là cần thiết, bởi khi khối doanh nghiệp này không trả được nợ, rất có thể Nhà nước phải dùng ngân sách để trả thay, chẳng hạn như khoản vay 600 triệu USD của Vinashin hay khoản nợ của Tổng công ty Phát triển nhà và đô thị HUD thời gian qua. Hơn nữa, DNNN còn phải gánh nhiều chức năng nhà nước như phát triển ngành nghề theo định hướng, điều tiết thị trường theo ý định của Chính phủ,…, tức là nợ của khối doanh nghiệp này không còn đơn thuần là hệ quả của chiến lược kinh doanh đơn thuần nữa.
 
Một điều đáng lo ngại khác là cách thức trả nợ chủ yếu là bằng … đảo nợ. TS Vũ Đình Ánh cho biết tại buổi Hội thảo Phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong điều hành kinh tế vĩ mô 2014 - 2015 rằng: “Hiện Việt Nam chủ yếu đi vay mới chứ gần như không nhìn thấy nguồn nào để trả nợ”. Thực chất của việc vay mới trả cũ là đảo nợ, lấy ngắn nuôi dài, nhằm kéo dài khoản nợ ra vài chục năm mà không bị vỡ nợ. Còn trả nợ thực phải xuất phát từ nguồn thu nội lực bên trong. Trên thực tế, nguồn tiền này đang bị thất thu nghiêm trọng, thu ngân sách không đạt chỉ tiêu do nhiều doanh nghiệp báo lỗ hoặc đóng cửa sau nhiều năm kinh doanh èo uột.
 
Cũng theo nghiên cứu của TS Phạm Thế Anh, một số khoản trong cơ cấu nguồn thu này là không bền vững, do phụ thuộc vào chủ thể bên ngoài hoặc có nguy cơ cạn kiệt dần theo thời gian. Chẳng hạn như thu từ viện trợ không hoàn lại đã giảm từ 0,61% GDP giai đoạn 2006 - 2010 xuống còn 0,31% GDP giai đoạn 2011 - 9/2013, do thu nhập người dân tăng lên. Thu từ bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước và chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng có xu hướng giảm từ 2,35% GDP xuống 1,52% GDP. Nguồn thu từ việc bán dầu thô hiện đang chiếm một phần lớn trong thu ngân sách, song lại là một nguồn thu hữu hạn và phụ thuộc vào giá cả thế giới.
 
Nợ công nếu chỉ hiểu là nợ quốc gia thì chưa tới cữ, nhưng nếu hiểu trọn vẹn là bao gồm cả nợ DNNN thì quả là cam go, đặc biệt là trong bối cảnh nguồn thu ngân sách ì ạch và trả nợ chủ yếu bằng đảo nợ. Điểm đáng lưu ý khác là tốc độ tăng nợ quá nhanh. Nợ công có thể trả dần thấm thoắt trong vài chục năm bằng đảo nợ và nguồn thu ngân sách bổ sung, nhưng nợ phát sinh và lãi của nợ mới cộng dồn nợ cũ mới là điều đáng lo ngại.
 
Nợ công của Việt Nam tuy chưa sánh bằng với Nhật Bản với khoản nợ hơn 200% GDP, song lại tiềm ẩn nhiều nguy cơ vỡ nợ hơn. Phần lớn nợ công của Nhật Bản (gần 95%) nằm trong tay các nhà đầu tư nội, dự trữ ngoại tệ của đất nước này rất mạnh (khoảng 1.046,873 tỷ USD theo báo cáo của Bộ Tài chính Nhật năm 2011), tỷ lệ tiết kiệm của người dân lớn và chỉ số hiệu quả vốn đầu tư ICOR cao (khoảng 3,0), thì Nhật hoàn toàn có thể từ từ giải quyết nợ công. Tuy nhiên, thực tế tại Việt Nam lại hoàn toàn khác, nợ nước ngoài lớn hơn nợ công, dự trữ ngoại tệ, tiết kiệm của người dân và hiệu quả sử dụng vốn đều thấp. Nói như TS Vũ Đình Ánh thì: “Trong trường hợp không vay được nữa thì sao? Lúc đó chỉ không trả được 1 tỷ USD thôi thì cũng là vỡ nợ”.
 
Nhắc nhở Chính phủ về vấn đề nợ công, TS Võ Trí Thành - Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý Trung ương - còn đưa ra kịch bản xấu như: “Giả sử có cú sốc về lãi suất, tỷ giá, hoặc một doanh nghiệp lớn nào làm ăn be bét khiến định mức tín nhiệm giảm, các nhà tài trợ ngừng cho vay, thanh khoản hệ thống ngân hàng có vấn đề, không mua trái phiếu để trả nợ trong nước thì nợ công sẽ ra sao?”. Nghe có vẻ khó tin, vì kịch bản này quá bi đát, song xác suất xảy ra nó vẫn nhởn nhơ trong khoảng từ 0 tới 1.
 
Nhắc lại vấn đề nợ công của Nhật Bản, đất nước này đánh đổi nợ công cao để đạt được những hiệu quả về đầu tư công và khắc phục thiên tai, hạ lãi suất (có giai đoạn lãi suất bằng 0) và giảm thuế (thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2011 chỉ 5%) để kích thích tư nhân, chi an sinh xã hội và hưu trí cho lớp dân số già… Trong khi đó, ở Việt Nam, nợ công cao không đi kèm với hiệu quả cao. Lãi suất và thuế liên tục giữ ở mức cao để bù đắp bội chi, tư nhân điêu đứng còn DNNN dù nợ gấp 53 hay 20 lần vốn chủ sở hữu (Tổng công ty Lắp máy VN và Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 8) vẫn sống sót và tiếp tục “gặm nhấm” nợ công. Đặc biệt, khi bội chi NSNN được nới đến 5,3% GDP và trái phiếu chính phủ được phát hành thêm tới 170 nghìn tỷ đồng trong ba năm tới, nguy cơ nợ rủi ro trương phình càng trở nên hiện hữu. Dù nợ công có nằm ở mức nào, thì một khi khả năng trả nợ yếu, hoặc nguồn trả nợ không bền vững, thì ngưỡng an toàn có là 100% thì nguy hiểm vẫn bủa vây như thường. Như TS Trần Du Lịch chỉ ra: “Có những ý kiến cho rằng nợ công dưới 65% GDP là an toàn, nhưng sau 2015, nước ta sẽ phải dùng 1/3 nguồn thu ngân sách để trả nợ. Đây là vấn đề không còn an toàn.”
 
Đồng An
Tổng hợp

Thursday, December 26, 2013

Nợ đang bủa vây !!!



index
Do bối cảnh kinh tế khó khăn, việc các doanh nghiệp vay mượn vốn lẫn nhau diễn ra khá thường xuyên. Tuy nhiên, thời gian vừa qua, có nhiều tranh chấp mà một bên lợi dụng tiền vốn của bên kia để kinh doanh. Do thời gian giải quyết tranh chấp kéo dài, nên một khi vướng vào tranh chấp, bên bị chiếm dụng vốn rất khó để nhanh chóng lấy lại tài sản. Ở các doanh nghiệp niêm yết, tình trạng vay nợ lẫn nhau tuy chưa dẫn đến những hệ lụy pháp lý nhưng cũng đáng chú ý, đặc biệt là ở những công ty đang ở trong tình trạng thua lỗ.
Lĩnh vực bất động sản: nợ lớn nhất
Nói tới chiếm dụng vốn người ta nghĩ ngay tới trường hợp điển hình là việc các công ty xây dựng, bất động sản huy động vốn của nhà đầu tư hoặc tiền trả trước của người mua nhà cho các công trình. Đối với lĩnh vực nhà đất, đây là một kênh huy động vốn phổ biến giúp chủ dự án sớm có tiền giải ngân cho các công trình. Tuy nhiên, khi sức khỏe của thị trường bất động sản không tốt thì tiến độ các dự án bị chậm hoặc thậm chí bị đình chỉ vô thời hạn. Trong trường hợp này, người bị thiệt thòi luôn là nhà đầu tư khi tiền đầu tư của mình không được hiện thực hóa hoặc bị đầu tư sai mục đích.
Tính đến hết quí 3-2013, nợ người mua trả tiền trước chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng nợ của một số công ty trong lĩnh vực bất động sản như Công ty cổ phần (CTCP) Phát triển Đô thị Từ Liêm (HOSE: NTL), tập đoàn Vingroup (HOSE: VIC), CTCP Đầu tư và Phát triển đô thị dầu khí Cửu Long (HOSE: CCL). Nợ người mua trả tiền trước của NTL là gần 320 tỉ đồng, chiếm gần 50% tổng nợ phải trả của doanh nghiệp. Con số này ở Vingroup là trên 13.185 tỉ đồng, chiếm gần 30% tổng nợ phải trả của tập đoàn. Bất động sản Nam Long (HOSE: NLG), Địa ốc Sài Gòn – Thương Tín (HNX: SCR), Địa ốc Hoàng Quân (HOSE: HQC) cũng đều có tỷ trọng nợ do người mua trả tiền trước chiếm tới một phần tư tổng nợ phải trả. Điều này cho thấy các doanh nghiệp bất động sản đang dựa quá sâu vào nguồn tạm ứng của người mua nhà. Theo thực tế dư thừa nguồn cung bất động sản hiện nay, cùng với việc người mua nhà ngày càng thận trọng hơn trong các giao dịch bất động sản, kênh vốn này đang ngày càng trở nên không an toàn với các doanh nghiệp bất động sản.
Ngoài khoản nợ người mua đã trả tiền trước, tại nhóm ngành bất động sản, khoản mục nợ nhà cung cấp cũng chiếm một tỷ trọng không nhỏ ở nhiều doanh nghiệp. Tồn kho bất động sản cao, hoạt động thu hồi nợ của khách hàng gặp nhiều khó khăn nên các doanh nghiệp lúng túng trong khả năng trang trải nợ nần với nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Tại Công ty Bất động sản Hoàng Huy (HOSE: HHS), khoản nợ nhà cung cấp tăng 65% từ đầu năm 2013. Hết quí 3, công ty đang nợ nhà cung cấp 128 tỉ đồng, tương đương 50% tổng nợ phải trả của công ty. Ở các công ty xây dựng như CTCP Xây dựng và Giao thông Bình Dương (HOSE: BCE), CTCP Kỹ thuật nền móng và Công trình ngầm Fecon (HOSE: FCN), CTCP Hồng Hà dầu khí (HNX: PHH), CTCP Xây dựng Cotec (HSX: CTD), tỷ trọng nợ nhà cung cấp chiếm từ 40-45% tổng nợ phải trả của các công ty này.
Tại các công ty xây dựng, ngoài vấn đề vay nợ, khả năng thu hồi nợ cũng rất đáng bàn. Tổng công ty Vinaconex (HNX: VCG) có tới gần 5.000 tỉ đồng phải thu khách hàng tính đến hết quí 3. CTCP Xây dựng Cotec cũng còn gần 2.000 tỉ đồng chưa thu hồi được từ phía khách hàng. Điều này tạo ra một cái vòng luẩn quẩn giữa doanh nghiệp với nhà cung cấp và khách hàng của mình.
Các lĩnh vực khác cũng đau đầu vì nợ
Ngoài nhóm ngành bất động sản và xây dựng, tình trạng nợ nần lẫn nhau cũng diễn ra tại cả các ngành công nghiệp như khoáng sản, than đá. Từ đầu năm đến nay, khoản nợ nhà cung cấp của các công ty khoáng sản, than đá tăng từ 10% tới 25%. Một số trường hợp cá biệt như Than Vàng Danh (HNX: TVD) khoản nợ nhà cung cấp tăng 150% lên đến gần 160 tỉ đồng; Than Cao Sơn (HNX:TCS) nợ nhà cung cấp trên 510 tỉ đồng, tăng 82% so với đầu năm; Khoáng sản Bắc Giang (HOSE: BGM) nợ nhà cung cấp gần 8 tỉ đồng chiếm trên 50% tổng nợ phải trả, tăng hơn 70% so với đầu năm.
Một số công ty trong số này còn vướng thêm cả khó khăn trong thu hồi nợ như Than Hà Lầm (HNX: HLC) với khoản phải thu khách hàng tăng từ 15 tỉ đồng đầu năm 2013 lên tới trên 100 tỉ đồng sau chín tháng đầu năm (tăng gần 600%). Khoản phải thu khách hàng của Than Mông Dương (HNX: MDC) cũng tăng 220% lên tới gần 160 tỉ đồng. Điều này có thể được lý giải phần nào qua bối cảnh khó khăn các công ty than, khoáng sản đang phải đối mặt trong năm nay. Lượng than tiêu thụ không được như kỳ vọng, công tác thu hồi nợ gặp nhiều khó khăn ảnh hưởng tiêu cực tới khả năng thanh toán nợ với nhà cung cấp.
Nhiều doanh nghiệp ngành y, dược cũng có tỷ trọng nợ nhà cung cấp tương đối cao, lên tới 75% tổng nợ phải trả. Đáng chú có CTCP Y Dược phẩm Vimedimex (HOSE: VMD) với khoản nợ nhà cung cấp lên tới trên 3.600 tỉ đồng, chiếm 75% tổng nợ phải trả của công ty. Khoản nợ nhà cung cấp của Dược Hậu Giang (HOSE: DHG) tăng đột biến 250% từ đầu năm lên mức 258 tỉ đồng, chiếm 28% tổng nợ phải trả. Khoản phải trả người bán cũng chiếm trên 75% tổng nợ phải trả của Dược Lâm Đồng (HNX: LDP). Tỷ lệ này ở Dược Bến Tre (HNX: DBT) và Traphaco (HOSE: TRA) lần lượt là trên 30%.
Trong số các nhóm ngành được nghiên cứu, tỷ trọng nợ nhà cung cấp trên tổng nợ phải trả tại những công ty niêm yết ngành vận tải chiếm 10-30%. Nhóm có tỷ trọng nợ nhà cung cấp thấp nhất là các công ty cao su, chiếm chưa tới 10%.
Trong quan hệ làm ăn giữa các đối tác kinh doanh, việc tạm ứng trước, chậm thanh toán là lẽ thường tình giúp việc lưu chuyển hàng hóa và dòng tiền của các doanh nghiệp thuận tiện, hiệu quả hơn. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn, khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp bị hạn chế, quan hệ nợ nần phức tạp sẽ tạo ra một hiệu ứng đô mi nô tiêu cực mà không biết đâu là điểm bắt đầu, đâu là điểm kết thúc.
Ở thời điểm này, doanh nghiệp cần kịp thời nhận biết được tình hình để từ đó có chiến lược cơ cấu các khoản nợ một cách hợp lý. Hơn nữa, mối quan hệ tín dụng là mối quan hệ dựa trên yếu tố cơ bản là niềm tin. Việc doanh nghiệp chủ động thương lượng với nhà cung cấp hoặc chủ nợ để cơ cấu các khoản nợ ngắn hạn sang dài hạn sẽ giữ được niềm tin nơi nhà đầu tư hoặc nhà cung cấp về khả năng thanh toán của mình, giúp tránh được nguy cơ mất thanh khoản hoặc tệ hơn là những rủi ro pháp lý không đáng có.
THEO THỜI BÁO KINH TẾ SÀI GÒN

Giá vàng giảm mạnh về mốc 34 triệu đồng/lượng chiều mua vào



Thứ năm, 2013-12-26 08:34:12 - Nguồn: VOV.vn
Sáng nay, giá vàng SJC giảm 190.000 đồng chiều mua vào và 30.000 đồng chiều bán ra so với chốt phiên hôm qua 25/12.
Mở cửa phiên giao dịch sáng nay (26/12), giá vàng SJC trong nước đang niêm yết ở mức 34,85 – 35,05 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra), giảm 190.000 đồng/lượng chiều mua vào và 30.000 đồng/lượng chiều bán ra so với chốt phiên ngày 26/12. Chiều qua, giá vàng SJC tại Hà Nội được Tập đoàn DOJI niêm yết ở mức 35,04 triệu đồng/lượng (mua vào) – 35,08 triệu đồng/lượng (bán ra).
Mức chênh lệch giữa giá bán ra và mua vào là 20.000 đồng/lượng.
Trên thị trường thế giới, giá vàng đang niêm yết ở mức 1.204 USD/oz, giảm nhẹ so với chốt phiên ngày 25/12. Quy đổi ra tiền Việt, hiện giá vàng thế giới tương đương 30,62 triệu đồng/lượng, thấp hơn giá vàng trong nước 4,43 triệu đồng/lượng./.
Thu Thủy/VOV online

Chứng khoán chiều 26/12: FLC rơi thảm, PVX thiếu tiền



Thứ năm, 2013-12-26 18:21:12 - Nguồn: XaLo.vn

VN-Index duy trì được mức tăng điểm tích cực do có trụ đỡ.


Chứng khoán chiều 26/12: FLC rơi thảm, PVX thiếu tiền

Đợt đóng cửa chiều nay hóa ra lại kết thúc trong lặng lẽ: FLC chẳng có kịch tính gì cả và PVX thì nằm bẹp ở tham chiếu với mức thanh khoản thấp đáng thất vọng. Riêng khối ngoại có một phiên chiều khá bận rộn để mua.

Với mức giao dịch yếu ớt của FLC chiều nay, có lẽ không ít nhà đầu tư chờ đợi một "cái gì đó" giống như hôm qua sẽ lại xảy ra lúc dồn lệnh đóng cửa. Lệnh bán ATC ở FLC cũng rất chậm rãi, không chừng cũng tỏ ý lo ngại cú đánh úp bất ngờ. Khi một nửa thời gian của đợt đóng cửa qua đi, rốt cục người bán cũng không "nhịn" được, tung ra hơn 170.000 cổ phiếu bán ATC. Khối lượng này tăng dần tới 250.000 cổ phiếu khi chỉ còn vài phút nữa là kết thúc.

Phía mua, FLC rất nhanh chóng tái diễn chiêu che giá. Mấy lô con con đặt mua như thể chuẩn bị cho một đợt đánh lớn. Mọi chú ý dồn vào vị trí của lệnh mua ATC, khi mà hôm qua có lực lượng sẵn sàng bỏ ra hơn 18 tỷ đồng để "chơi sốc". Càng đến sát giờ khớp, khi người bán càng sốt ruột thì có lẽ nhà đầu tư quan sát còn nản hơn: Rốt cục chẳng có chiêu trò gì hôm nay cả, lượng mua ATC chỉ hơn 16.000 cổ phiếu.

FLC đóng cửa ở mức 10.100 đồng, giảm 4,72% so với tham chiếu. Thanh khoản cả phiên khá kém với hơn 3,81 triệu cổ phiếu, tương đương 39,8 tỷ đồng. Riêng chiều nay FLC khớp thêm được 1,85 triệu cổ phiếu, tương đương 19,1 tỷ đồng nhưng giá lại giảm từ 10.600 đồng cuối phiên sáng xuống 10.100 đồng.

Lực cầu ở FLC là khá thất vọng, vì không duy trì được sự bất ngờ và dòng tiền mạnh như hôm qua. FLC cũng tạo nên một bull-trap trong phiên với mức chênh lệch tới hơn 6,9%. Gần 370.000 cổ phiếu đã chót mua vào giá 10.700 đồng - 10.800 đồng giờ đang gánh mức lỗ.

Về giá, mức 10.000 đồng vẫn được giữ vững có thể là điều an ủi với FLC. Phiên cuối tuần tiếp tục sẽ là một thử thách lớn khi lại có tiếp hơn 13 triệu cổ phiếu về tài khoản. Một phần khá lớn trong khối lượng này là mua dưới 10.000 đồng, nghĩa là vẫn còn một chút lãi. Có khả năng khối lượng này sẽ tiếp tục gây sức ép lên giá FLC.

PVX chiều này cũng chịu sức ép nhưng không lớn. Cầu đã giữ vững được mức tham chiếu 3.300 đồng, nhưng lượng cầu 3.400 đồng - 3.500 đồng bị khớp hết. Tổng khối lượng giao dịch phiên chiều của PVX chỉ gần 6 triệu, cũng không phải là quá nhiều với PVX. Có thể người mua đã lùi giá xuống mức thấp hơn.

Với một lượng tiền khá lớn được rút ra trong phiên hôm nay, khoảng 76,67 tỷ đồng, cũng đồng nghĩa với một lượng lớn nhà đầu tư tạm thời dính bẫy tăng giá trong phiên. Nếu tính chung cho phiên T+3 và T+4 thì hai hôm nay, lượng hàng bắt đáy giá thấp cũng thoát ra đáng kể. Tuy nhiên nếu nhìn dài hơn từ phiên ngày 16/12 thì lượng thoát ra của nhà đầu tư trong nước vẫn còn ít. Hai phiên giao dịch cực lớn ngày 12 và 20/12 chủ yếu là nhà đầu tư nước ngoài bán ra và nhà đầu tư trong nước mua vào. Chỉ có phiên hôm qua và hôm nay nhà đầu tư trong nước mới thoát ra đáng kể. PVX sẽ phải cần một lượng tiền rất lớn để duy trì áp lực lên giá nếu muốn đi tiếp.

Ngoài PVX và FLC, chiều nay một số cổ phiếu đầu cơ khác cũng giao dịch với cường độ lớn nhưng giá chuyển biến theo chiều hướng xấu. Trên HSX có HQC giao dịch nổi bật với 2,87 triệu cổ phiếu, tương đương gần 23,8 tỷ đồng. Lượng tiền giao dịch thêm ở cổ phiếu này thậm chí còn vượt trội cả REE, HPG hay GAS, VIC. Đáng tiếc là giá HQC lại trượt dài từ mức 8.500 đồng thời điểm cuối phiên sáng về 8.200 đồng lúc đóng cửa, giảm 2,38% so với tham chiếu.

Trên HNX, ngoài PVX, KLF, PVS, FIT cũng là những mã giao dịch nhiều và giá cũng xấu đi. KLF rơi mạnh từ 15.600 đồng cuối phiên sáng về 15,300 đồng, thậm chí có lúc tới 15.200 đồng dưới sức ép của gần 937.000 cổ phiếu, tương đương 14,4 tỷ đồng. PVS giao dịch lượng cổ phiếu trị giá 17,8 tỷ đồng và giá giảm 0,49% so với tham chiếu. FIT cũng trượt từ 18.100 đồng về 17.900 đồng, giảm 2,72% so với tham chiếu.

Ở mặt tích cực, ITA là tiêu biểu của dòng tiền vào đẩy giá cải thiện. ITA cũng là mã đạt quy mô giao dịch lớn nhất thị trường trong buổi chiều. Cuối phiên sáng, ITA đứng tham chiếu 6.600 đồng và bị chặn bán ở đây. Để đẩy lên được một bước giá tới 6.700 đồng, ITA đã phải khớp 7,21 triệu cổ phiếu với gần 48,1 tỷ đồng. Gần đây ITA bị kẹp chặt giữa khối lượng dư mua và dư bán cực cao khiến việc thay đổi một bước giá cũng tốn chi phí hàng chục tỷ đồng. Dù sao ITA vẫn tăng 1,52% lúc đóng cửa và nhảy vọt lên vị trí dẫn đầu thị trường về thanh khoản, đạt gần 10,5 triệu cổ phiếu và 69,7 tỷ đồng.

Trong số các blue-chips của HSX chiều nay, GAS nổi lên như là một cổ phiếu dẫn dắt quan trọng. Không chỉ tăng đột biến 2,31% lúc đóng cửa mà suốt cả phiên, GAS đã duy trì mức giá trên tham chiếu ổn định để nâng đỡ thị trường. Chỉ riêng đợt đóng cửa, để GAS duy trì mức tăng giá, lượng tiền cần thiết đã tới gần 9,3 tỷ đồng.

VNM, MSN và một số mã tầm trung khác như DRC, HSG giảm giá không làm ảnh hưởng nhiều do được cân bằng từ VIC, VCB, BVH, DPM, SSI. Đặc biệt nhờ GAS, VN-Index tăng 0,42% trong khi VN30-Index tăng 0,23%.

Nhà đầu tư nước ngoài đã có một phiên gom thẳng trên sàn khá lớn. HPG, PVD, VCB, VSH và GAS là những mã được mua nổi bật. Tính ra HSX được mua ròng 103,1 tỷ đồng và rổ VN30 được mua ròng 85,9 tỷ đồng. Chẵn 46 phiên trở lại đây HSX mới lại được chứng kiến một phiên mua ròng trên 100 tỷ đồng của nhà đầu tư nước ngoài.

Theo tin 247

Wednesday, December 25, 2013

Năm 2014: Thất thu, vay không được, nợ tăng cao – Việt Nam sẽ vỡ nợ?



“Hiện Việt Nam chủ yếu đi vay mới chứ gần như không nhìn thấy nguồn nào để trả nợ”, TS Vũ Đình Ánh cho biết tại buổi Hội thảo Phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong điều hành kinh tế vĩ mô 2014 – 2015. Cũng tại đây, TS Trịnh Quang Anh nhận định, tâm điểm của 2014 sẽ phải là câu chuyện nợ công.
Làm 100 đồng trả nợ 98 đồng 
Tại Hội thảo Phối hợp chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ trong điều hành kinh tế vĩ mô 2014 – 2015, TS Trịnh Quang Anh nhận định, tâm điểm của 2014 sẽ phải là câu chuyện nợ công.
Mặc dù Bộ Tài chính công bố đến hết năm 2012, tổng nợ công của Việt Nam là 55,7% GDP, vẫn nằm trong ngưỡng an toàn theo khuyến cáo của các tổ chức quốc tế (dưới 65% GDP).
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng từng khẳng định, nợ công của Việt Nam trong các năm 2014, 2015 và 2016 vẫn trong giới hạn an toàn (không quá 65% GDP).
TS Phạm Thế Anh – Quyền Viện trưởng Viện chính sách công và Quản lý (Đại học Kinh tế quốc dân) cho hay, nếu cộng cả nợ doanh nghiệp Nhà nước không được Chính phủ bảo lãnh và nợ đọng xây dựng cơ bản, nợ công của Việt Nam sẽ phải lên tới 98,2% GDP.
Vỡ nợ (2)
Nợ công theo công bố chính thức của Việt Nam là 55,7% GDP. Tuy nhiên, theo Tiến sĩ Phạm Thế Anh nếu tính cả nợ doanh nghiệp nhà nước không được Chính phủ bảo lãnh và nợ đọng xây dựng cơ bản, nợ công của Việt Nam phải lên tới 98,2% GDP.
Theo số liệu Tiến sĩ Phạm Thế Anh công bố, cứ 100 đồng tổng sản phẩm quốc nội được làm ra, người dân phải gánh hơn 98 đồng nợ, gia tăng so với mức 95 đồng đã được Ủy ban Kinh tế báo động trong báo cáo công bố hồi tháng 5 năm nay.
Một dấu hỏi lớn được đặt ra là nguồn trả nợ trong tương lai. Tiến sĩ Võ Trí Thành – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Quản lý Trung ương đặt giả thiết: “Giả sử có cú sốc về lãi suất, tỷ giá, hoặc một doanh nghiệp lớn nào làm ăn be bét khiến định mức tín nhiệm giảm, các nhà tài trợ ngừng cho vay, thanh khoản hệ thống ngân hàng có vấn đề, không mua trái phiếu để trả nợ trong nước thì nợ công sẽ ra sao?”.
Tiến sĩ Vũ Đình Ánh cho rằng hiện Việt Nam chủ yếu đi vay mới chứ “gần như không nhìn thấy nguồn nào để trả nợ”.
Nghiên cứu của tiến sĩ Phạm Thế Anh cho biết, cơ cấu nguồn thu của Việt Nam có nhiều khoản không bền vững bởi phụ thuộc vào bên ngoài hoặc có nguy cơ cạn kiệt dần theo thời gian. Với việc thu nhập ngày càng tăng, nguồn thu từ viện trợ không hoàn lại đã giảm từ 0,61% GDP giai đoạn 2006-2010 xuống còn 0,31% GDP giai đoạn 2011 đến tháng 9/2013.
Thu từ bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước và chuyển quyền sử dụng đất cũng có xu hướng giảm dần từ 2,35% GDP xuống 1,52% GDP. Bên cạnh đó, nguồn thu của Việt Nam cũng phụ thuộc nhiều vào bán dầu thô, song đây cũng là tài nguyên thiên nhiên hữu hạn và phụ thuộc vào giá cả thế giới.
“Trong trường hợp không vay được nữa thì sao? Lúc đó chỉ không trả được 1 tỷ USD thì cũng là vỡ nợ”, Tiến sĩ Vũ Đình Ánh gióng lên hồi chuông cảnh báo.
Nợ doanh nghiệp nhà nước đe dọa nợ công 
TS Phạm Thế Anh liệt kê tới 30 DNNN đang có hệ số nợ phải trả vượt xa mức ba lần vốn chủ sở hữu, trong đó có nhiều cái tên lớn như Tổng công ty Xây dựng Thăng Long, Tổng công ty 319 Bộ Quốc phòng, Tổng công ty Viglacera, Tổng công ty Sông Đà, Tổng công ty Giấy…
Vỡ nợ (1)
Năm 2014: Thu ít, vay không được Việt Nam sẽ vỡ nợ?
Đáng lưu ý, Tổng công ty Lắp máy VN có hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu đã lên tới trên 53 lần, Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 8 lên tới trên 20 lần…
Ông Thế Anh cho rằng khi các DNNN không trả được nợ, rất có thể Nhà nước phải dùng ngân sách trả thay (ví dụ như khoản vay 600 triệu USD của Vinashin hay khoản nợ của Tổng công ty Phát triển nhà và đô thị HUD).
Việt Nam không đưa những khoản nợ của DNNN (không được Nhà nước bảo lãnh) vào nợ công. Nợ đọng xây dựng cơ bản của các địa phương cũng chưa được tính vào. Nếu tính đủ, ông Thế Anh tính tổng nợ công của VN đã lên tới khoảng 98,2% GDP (khoảng 100 tỉ USD), vượt xa ngưỡng an toàn (65% GDP) được khuyến cáo bởi các tổ chức quốc tế.
TS Đỗ Thiên Anh Tuấn, giảng viên Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright cũng chỉ ra rằng, nếu tính cả nợ tiềm ẩn của các DNNN vào nợ công thì tỷ lệ nợ công trên GDP không dừng lại ở con số khoảng 50% như hiện nay mà phải trên dưới 100%.
Chính vì lý do đó mà trọng tâm của quản lý nợ công của chúng ta không chỉ tập trung vào nợ của Chính phủ mà quan trọng là các khoản nợ do Chính phủ bảo lãnh và nợ trong khu vực DNNN có nguy cơ Chính phủ phải đứng ra bảo lãnh giống như trường hợp Vinashin.
Theo TS Đỗ Thiên Anh Tuấn, việc bảo lãnh cho các khoản nợ xấu của các DNNN không chỉ gây ra tâm lý ỷ lại cho các DNNN mà còn ảnh hưởng đến một số phương diện khác như tỷ lệ nợ công tăng làm tăng chi phí tài trợ của Chính phủ. Khi tỷ nợ công tăng lên lãi suất vay nợ của Chính phủ tăng theo, làm tăng gánh nặng tài trợ ngân sách để trả lãi.
Hơn nữa, khi chi phí vay nợ của Chính phủ tăng sẽ kéo theo chi phí vay nợ của khu vực tư nhân tăng theo, bởi vì Chính phủ được đánh giá có độ rủi ro thấp hơn tư nhân nhưng khi Chính phủ đi vay nợ với chi phí cao thì khu vực tư nhân rất khó vay được vốn rẻ.
Nói khác đi, khu vực tư nhân lúc này đã phải gánh luôn rủi ro nợ công của Chính phủ. Điều này cũng giải thích vì sao mặt bằng lãi suất của Việt Nam những năm qua luôn giữ ở mức khá cao ngay cả khi nền kinh tế suy giảm. Hệ quả của nó là làm tăng chi phí đầu vào của doanh nghiệp và làm giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Theo Báo Đất Việt

Thuế từ chuyển nhượng BĐS: Kiểu gì cũng thiệt?




ĐĂNG BỞI  - 
Đó là nhận định của ông Vũ Kim Giang - Giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư Thái Minh Quang, trước quy định tại Luật Thuế thu nhập cá nhân về cách tính thuế suất cho người có bất động sản (BĐS) chuyển nhượng.
Cụ thể của quy định này là thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng bất động sản được áp 2% trên tổng giá bán ghi trên hợp đồng (với điều kiện giá vốn không có hóa đơn, chứng từ hợp pháp đầy đủ để chứng minh) hoặc 25% chênh lệch giá (giá bán trừ giá mua và trừ các chi phí liên quan như chi phí cải tạo, sửa chữa bất động sản).
Tuy nhiên, cách tính thuế này người kinh doanh bất động sản cũng gặp nhiều khó khăn, do trong thời gian trước nhiều người dân đổ xô mua nhà đất, nhưng nay thị trường nguội lạnh nên họ đành phải báo tháo. Số thuế được tính 2% trên giá nhà đất báo tháo, bán lỗ như vậy cũng còn cao đối với người dân khi họ không nhận được đồng lợi nhuận nào mà còn phải nộp thuế. Nếu chuyển nhượng bất động sản được áp dụng nộp 25% thì sẽ có lợi cho người dân. 
Song phương pháp này đòi hỏi mỗi cá nhân phải có đầy đủ chứng từ và sau bao nhiêu năm sử dụng mới chuyển nhượng thì giá bất động sản cũng đã thay đổi rất nhiều. Lúc đó, nếu áp thuế 25% lợi nhuận, thì mức thuế phải nộp có thể gấp 5, 10 lần so với mức thuế 2%. Trong trường hợp này, người nộp thuế băn khoăn vì đồng tiền trượt giá.

Theo ông Giang, đa phần người dân chọn phương án 2%, hiện tượng người dân viết giá chuyển nhượng thấp hơn để trốn thuế, nếu ghi đúng thì mức đóng lớn, do vậy, sẽ dẫn đến tình trạng thất thu thuế. Đồng quan điểm, bà Nguyễn Thị Cúc - Chủ tịch Hội Tư vấn thuế cho rằng, pháp luật đã quy định rất rõ về từng cách áp thuế. Tuy nhiên, hai cách tính này đều có những điểm bất cập.
Để giải quyết những bất cập trên, Bộ Tài chính vừa có công văn gửi các cục thuế tỉnh, thành về việc áp dụng thuế thu nhập cá nhân đối với chuyển nhượng bất động sản. Theo hướng dẫn mới này, người nộp thuế tự xác định thu nhập tính thuế, khai thuế đối với cả trường hợp áp dụng thuế suất 25% và thuế suất 2%. Cơ quan thuế thực hiện kiểm tra và xác định số thuế thu nhập cá nhân phải nộp theo quy định. 
Trường hợp phát hiện có gian lận về căn cứ tính thuế thì cơ quan thuế thực hiện truy thu và xử lý theo quy định. Bộ Tài chính cũng quy định các trường hợp cụ thể về cách áp dụng thuế suất khi chuyển nhượng bất động sản.

Mặc dù đã có những hướng dẫn cụ thể từ phía Bộ Tài chính, tuy nhiên những bất cập này chưa thể giải quyết ngay một sớm một chiều, mà cần phải có sự điều chỉnh cơ chế, chính sách xác thực và có tính khả thi hơn.
Thi Trần (ảnh minh hoạ từ Phapluattp.vn)

Tuesday, December 24, 2013

Nhập siêu 23,7 tỉ USD từ Trung Quốc




ĐĂNG BỞI - 
Theo số liệu tổng kết của Tổng cục Thống kê năm 2013, Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc đạt 13,1 tỷ USD trong khi đó nhập khẩu từ quốc gia này ước tính đạt 36,8 tỷ USD, tăng 26,7% so với cùng kỳ năm 2013 (tương đương 7,8 tỷ USD). Như vậy, Trung Quốc là thị trường nhập siêu lớn nhất của Việt Nam với mức 23,7 tỷ USD.
Tính chung cả năm 2013, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt 132,2 tỷ USD, tăng 15,4% so với năm 2012, thấp hơn so với mức tăng năm 2012 (18,2%) và chưa bằng một nửa năm 2011 (34,2%).Trong năm 2013, kim ngạch xuất khẩu khu vực kinh tế trong nước đạt 43,8 tỷ USD, tăng 3,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (gồm cả dầu thô) đạt 88,4 tỷ USD, tăng 22,4%.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm nay tăng cao chủ yếu ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài với các mặt hàng như: Điện tử, máy tính và linh kiện; điện thoại các loại và linh kiện, hàng dệt may, giày dép... Xuất khẩu của khu vực này trong những năm gần đây có xu hướng tăng mạnh và chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu: Năm 2011 chiếm 56,9% và tăng 41%; năm 2012 chiếm 63,1% và tăng 31,1%; năm 2013 chiếm 61,4% và tăng 22,4%.

Năm 2013, EU tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch xuất khẩu ước đạt 24,4 tỷ USD tăng 20,4 % (tương đương 4,1 tỷ USD) so với năm 2012. Tiếp đến là ASEAN đạt 18,5 tỷ USD, tăng 6,3% (1,1 tỷ USD), Nhật Bản ước tính đạt 13,6 tỷ USD, tăng 3,8% (496 triệu USD), Hàn Quốc 6,7 tỷ USD, tăng 19,9% (1,1 tỷ USD), Trung Quốc đạt 13,1 tỷ USD, tăng 2,1% (269 triệu USD).

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu năm 2013 đạt 131,3 tỷ USD, tăng 15,4% so với năm trước. Trong năm 2013, kim ngạch nhập khẩu khu vực kinh tế trong nước đạt 56,8 tỷ USD, tăng 5,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 74,5 tỷ USD, tăng 24,2%.

Cũng như hoạt động xuất khẩu, hoạt động nhập khẩu khu vực có vốn đầu tư nước ngoài những năm gần đây có xu hướng tăng mạnh, chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch nhập khẩu: Năm 2011 nhập khẩu của khu vực này chiếm 45,7% và tăng 32,1%; năm 2012 chiếm 52,7% và tăng 22,7%; năm 2013 chiếm 56,7% và tăng 24,2%.

Tính chung cả năm 2013, xuất siêu 863 triệu USD, bằng 0,7% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 13,1 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu gần 14 tỷ USD.
Như vậy xuất siêu năm 2013 hoàn toàn thuộc về khu vực đầu tư nước ngoài. Mặc dù xuất khẩu khu vực này phát triển mạnh là điều kiện thuận lợi để giải quyết việc làm cho người lao động nhưng hiệu quả mang lại cho tăng trưởng kinh tế không cao do chủ yếu xuất khẩu các mặt hàng gia công, lắp ráp với giá trị gia tăng thấp.
Tuấn Ngọc

Hơn 60.000 doanh nghiệp VN giải thể hoặc ngừng hoạt động

24/12/2013 10:37 (GMT + 7)
TTO - Do sản xuất thua lỗ, năng lực điều hành hạn chế, thiếu vốn sản xuất kinh doanh, không tìm kiếm được thị trường... trong năm 2013 đã có đến 60.737 doanh nghiệp VN giải thể hoặc ngừng hoạt động.

Cùng với hàng ngàn doanh nghiệp giải thể, phá sản, thị trường mặt bằng cho thuê cũng trở nên u ám. Trong ảnh: một nhà cho thuê nguyên căn tại đường Nguyễn Đình Chiểu, Q.3, TP.HCM - Ảnh: Hoàng Thạch Vân


Đây là số liệu vừa được Cục Quản lý Đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch Đầu tư công bố.
Cụ thể, theo Cục Quản lý Đăng ký kinh doanh, số doanh nghiệp gặp khó khăn phải giải thể hoặc ngừng hoạt động trong năm 2013 lên tới 60.737 doanh nghiệp, tiếp tục tăng 11,9% so với năm 2012.
Cũng theo báo cáo này, trong năm 2013 số doanh nghiệp đã giải thể là 9.818 doanh nghiệp, tăng 4,9%; số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động là 10.803 doanh nghiệp, tăng 35,7%; số doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng không đăng ký là 40116 doanh nghiệp, tăng 8,6% (so với 2012).
Về lý do ngừng hoạt động, 56,4% số doanh nghiệp trả lời do sản xuất thua lỗ kéo dài, 5,1%  trả lời do năng lực quản lý, điều hành hạn chế và 38,5% trả lời do nguyên nhân khác như thiếu vốn sản xuất kinh doanh, không tìm kiếm được thị trường hoặc đang thuộc diện bán hoặc chờ sắp xếp lại.
Cũng liên quan đến vấn đề doanh nghiệp, tại cuộc họp báo của Tổng cục Thống kê vừa qua, trả lời câu hỏi của báo chí về thực tế còn bao nhiêu doanh nghiệp nhà nước (DNNN), ông Phạm Đình Thúy, Vụ trưởng Vụ Thống kê Công nghiệp, Tổng cục Thống kê cho biết: các cơ quan khác tính toán các DNNN mà nhà nước sở hữu 100% vốn thì VN còn khoảng trên 1000 doanh nghiệp. Tuy nhiên, Tổng cục Thống kê tính toán cả các doanh nghiệp cổ phần có vốn nhà nước trên 50% thì tại thời điểm 01/01/2013, cả nước còn 3135 DNNN.
Tổng cục Thống kê cũng nêu luôn kết quả điều tra cho biết hiện có 2854 DNNN thực tế đang hoạt động, chiếm 98,7%; 39 DNNN ngừng hoạt động, chiếm 1,3%, bao gồm 24 doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước và 15 doanh nghiệp vốn nhà nước trên 50%.
Trong số 24 doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước ngừng hoạt động thì tỷ lệ doanh nghiệp chờ giải thể, phá sản là 41,7%; doanh nghiệp chờ sắp xếp lại là 29,2%, doanh nghiệp ngừng để đầu tư đổi mới công nghệ là 12,5%, còn lại là nguyên nhân khác...
Như vậy, so với năm 2000, số doanh nghiệp nhà nước tại thời điểm 01/01/2013 bằng 54,4%, giảm 2624 doanh nghiệp...
Cũng theo Tổng cục Thống kê, thị phần cung cấp sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ của các DNNN cho thị trường trong nước chiếm khoảng 32,2%
C.V.KÌNH

Monday, December 23, 2013

Gần 61.000 doanh nghiệp ngừng hoạt động

Tổng cục Thống kê ngày 23.12 cho biết, năm 2013, số doanh nghiệp gặp khó khăn phải giải thể hoặc ngừng hoạt động là 60.737 doanh nghiệp, tăng 11,9% so với năm trước.

Trong đó, số doanh nghiệp đã giải thể là 9.818, tăng 4,9%; số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động là 10.803, tăng 35,7%; số doanh nghiệp ngừng hoạt động nhưng không đăng ký là 40.116, tăng 8,6%.

Về các doanh nghiệp nhà nước ngừng hoạt động, cơ quan thống kê cho biết, trong số 24 doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước ngừng hoạt động thì tỷ lệ doanh nghiệp chờ giải thể, phá sản chiếm 41,7%.

Mai Nguyễn

Saturday, December 21, 2013

Nợ công 2014: Nhìn góc nào cũng đáng lo!



ĐĂNG BỞI - 
Linh Đan
Trả lời cho câu hỏi điều hành chính sách năm 2014 sẽ phải lưu tâm những gì, nhiều ý kiến cùng cho rằng: Nền kinh tế lại phải đối mặt với tốc độ tăng trưởng giảm dần cùng nhiều rủi ro mới, trong đó nổi bật lên là các vấn đề liên quan đến tính bền vững của tài khóa và nợ công.
Theo các báo cáo chính thức, tỉ lệ nợ công so với GDP năm 2011 là 54,9%; năm 2012 là 55,7%. Tỉ lệ dư nợ chính phủ so với GDP năm 2011 là 43,1%; năm 2012 là 43,3%. Tỉ lệ dư nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP năm 2011 là 41,5%, năm 2012 là 41,1%. Tuy vậy, các cơ quan chức năng luôn khẳng định, các chỉ số về nợ công, dư nợ chính phủ và dư nợ nước ngoài của quốc gia dự kiến đến năm 2015 đều nằm trong ngưỡng đề ra của kế hoạch 2011-2015. 
Song, vấn đề phạm vi nợ công nên được xác định lại ra sao, tổng số theo đúng bản chất là bao nhiêu, đâu là ngưỡng tối ưu và đâu là trần an toàn của nợ công đang và sẽ là tâm điểm của nhiều cuộc tranh luận về an ninh tài chính quốc gia.
Tiến sĩ Lê Xuân Nghĩa, thành viên Hội đồng tư vấn Chính sách Tài chính tiền tệ quốc gia, nhận định tỉ lệ nợ công là bao nhiêu không phải là vấn đề quan trọng, vì có những nước nợ công chỉ chiếm 30% GDP đã vỡ nợ như Ireland, ngược lại có những nước lên tới 70-80% nhưng vẫn an toàn. 
Thế nhưng ông lại lưu ý một chi tiết, đó là trong tổng số phát hành trái phiếu thì 90% là trái phiếu Chính phủ và 80% lượng trái phiếu Chính phủ phát hành được các ngân hàng thương mại (NHTM) mua. Khối lượng phát hành ngày càng lớn, nhưng thời gian đáo hạn ngắn đến mức kỳ lạ, tổng số kỳ hạn có 3,2 năm.
“Tôi lo ngại rằng, nếu không cẩn thận thì tài khóa sẽ gặp nguy cơ vì tốc độ tăng nợ công nhanh thời gian qua và thời gian đáo hạn tập trung vào giữa 2014, sang năm 2015 chưa kể phải trả các khoản nợ xây dựng cơ bản. Rất có thể ngân sách sẽ gặp khó khăn trong thanh toán nợ”, ông Nghĩa cho biết.
Cũng chung nỗi lo về vấn đề trả nợ, tiến sĩ Vũ Đình Ánh (Bộ Tài chính) cho rằng: “Chúng ta đang làm động tác rất đơn giản là trong số nợ vay mới có phần để trả nợ cũ. Nếu một ngày nào đó ta không vay thêm được thì trả nợ thế nào. Chỉ 1 tỉ USD nợ đến hạn không có nguồn trả thôi là sẽ vỡ nợ. Hiện nợ công dưới 60% GDP, nếu GDP tính theo giá so sánh hiện hành và theo 2013 thì nợ công sẽ hơn 100 tỉ USD, đó là con số không hề nhỏ và rất nguy hiểm, chưa kể đến vấn đề sử dụng nợ". 
Ông Ánh đề nghị cần phân tích động thái nợ công để rõ hơn bản chất, tốc độ nợ công tăng nhanh và việc sử dụng nợ công.
Nếu cộng cả con số nợ của DNNN không được Chính phủ bảo lãnh cùng với nợ đọng trong xây dựng cơ bản vào con số công bố chính thức thì nợ công Việt Nam hiện nay sẽ lên tới xấp xỉ 98,2% GDP. Đây là mức vượt xa so với ngưỡng an toàn (65% GDP) được nhiều tổ chức quốc tế khuyến cáo.
Những thách thức tài khóa và nợ công cho thấy đã đến lúc Việt Nam cần có một cuộc cải cách tài khóa triệt để và toàn diện, đưa ngân sách dần trở về trạng thái cân bằng, bảo đảm tính bền vững của nợ công và duy trì sự ổn định lâu dài cho nền kinh tế.
Dù ngưỡng an toàn nợ là bao nhiêu thì với thâm hụt ngân sách kéo dài như hiện nay, Việt Nam sẽ nhanh chóng chạm các ngưỡng đó. Việc sớm chuẩn bị cho một kế hoạch tài khóa bền vững dài hơi sẽ là rất cần thiết, giúp cho nền kinh tế tránh được những cú sốc tài khóa tiêu cực trong tương lai.
Tiến sĩ Phạm Thế Anh, Quyền Viện trưởng Viện chính sách công và quản lý (Đại học Kinh tế Quốc dân - Hà Nội) lại nhìn nợ công ở khía cạnh cơ cấu, khi cho rằng “Thâm hụt ngân sách kéo dài, nợ của chính quyền địa phương có phần bị buông lỏng. Đặc biệt là sự thua lỗ của nhiều doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong những năm qua, sẽ gây ra những nguy cơ về một cuộc khủng hoảng nợ và trong dài hạn nó còn có thể tác động tiêu cực đến sự ổn định kinh tế vĩ mô và thịnh vượng của quốc gia”.
Con số tỉ lệ nợ công/GDP đến cuối năm 2012 vào khoảng 55,7% là chưa kể các khoản nợ chưa được hạch toán của các chính quyền địa phương và nợ có thể phải trả thay cho các DNNN làm ăn thua lỗ. Do đó, nếu thực thi chính sách nới trần bội chi rất có thể sẽ khiến mức trần nợ công là 65% GDP vào năm 2015 - như Quốc hội quy định - nhanh chóng bị phá vỡ.
Thêm vào đó, những khoản nợ xấu của khu vực DNNN, mà rất có thể sẽ phải dùng ngân sách Nhà nước để trả, mới là mầm mống đe dọa tính bền vững của nợ công. 
Đã có thống kê không chính thức chỉ ra rằng: nếu cộng cả con số nợ của DNNN không được Chính phủ bảo lãnh cùng với nợ đọng trong xây dựng cơ bản vào con số công bố chính thức thì nợ công Việt Nam hiện nay sẽ lên tới xấp xỉ 98,2% GDP. Đây là mức vượt xa so với ngưỡng an toàn (65% GDP) được nhiều tổ chức quốc tế khuyến cáo.
Thời báo Ngân hàng
Ảnh minh họa từ Gafin.vn